RSS

MÔI TRƯỜNG

SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐỚI CẢNH QUAN TỰ NHIÊN

I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC ĐỚI CẢNH QUAN TRÊN TRÁI ĐẤT

Các đới cảnh quan địa lý chính là những tổng thể Địa lý tự nhiên trong đó có mối liên hệ và sự phối hợp của các thành phần riêng biệt trên bề mặt Trái đất. Nó được hình thành trên nền của các vòng đai địa lý, là biểu hiện tổng hợp của sự thay đổi mang tính địa đới của tất cả các thành phần của cảnh quan.

Các đới cảnh quan trên Trái đất là những tổng thể Địa lý tự nhiên toàn vẹn, ranh giới của  chúng được hình thành dựa trên 3 yếu tố có liên quan mật thiết với nhau. Một trong 3 yếu tố đó là cán cân bức xạ hàng năm (R) của bề mặt đất, nghĩa là sự khác nhau giữa lượng nhiệt hấp thụ của bề mặt đó và lượng nhiệt hoàn lại bởi bề mặt đó. Yếu tố thứ hai là tổng lượng mưa hàng năm (r). Yếu tố thứ ba là chỉ số khô hạn theo bức xạ (K) nói lên mối liên quan giữa hai yếu tố trên, trong  đó:

Cán cân bức xạ R (kcal/cm2/ năm): R = (Q + q) . (1 – A) – E

trong đó Q là bức xạ trực tiếp, q là bức xạ khuyếch tán, A là albedo của bề mặt, E là những hữu hiệu của bề mặt.

R < 50 kcal/cm2/ năm: Vòng đai cực, cận cực và ôn hoà

R = 50 – 75 kcal/cm2/ năm: Vòng đai cận nhiệt đới

R > 75 kcal/cm2/ năm: Vòng đai nhiệt đới

Chỉ số khô hạn K quy định kiểu đới cảnh quan và các đới cảnh quan là những bộ phận của vòng đai địa lý:

Chỉ số khô hạn theo bức xạ (K) của A.A Grigoriev và M.I Buđưco:

                      R

K  =

                           L.r

Trong đó:     R       : Cán cân bức xạ tính bằng kcal/ cm2/ năm

r      : Lượng mưa năm tính bằng g/ cm2/ năm

L      : Tiềm nhiệt bốc hơi tính bằng kcal/ g

K càng lớn mức độ khô hạn càng tăng, đô lớn của K quy định kiểu của các đới cảnh quan và độ lớn của R quy định đặc tính cụ thể và trạng thái của đới. Ví dụ  K > 3 trong mọi trường hợp biểu thị cảnh quan hoang mạc, nhưng tuỳ thuộc vào R mà trạng thái của hoang mạc thay đổi, khi R = 0 – 50 kcal/ cm2/ năm thì đó là hoang mạc ôn đới, R = 50 -75 kcal/ cm2/ năm là hoang mạc cận nhiệt và R > 75 kcal/ cm2/ năm là hoang mạc nhiệt đới.

K < 0,35 : Đài nguyên                                K : 2,3- 3,4 : bán hoang mạc

K : 0,35 – 1.1 : rừng                                 K > 3,4 : hoang mạc

K : 1,1 – 2,3 : thảo nguyên

Trong mỗi vòng đai địa lý có một bộ hệ số tương quan nhiệt ẩm từ ẩm ướt đến khô hạn. Sự lặp lại của trị số K trong các vòng đai địa lý khác nhau chính là biểu hiện tuần hoàn của quy luật địa đới. Như vậy, thực chất các đới cảnh quan địa lý là một bộ phận lớn của các vòng đai địa lý, trong đó thống trị một kiểu cảnh quan địa đới nào đó (Minkôv, 1964).

Tên gọi của các đới cảnh quan thường phỏng theo dấu hiệu địa thực vật đặc trưng, bởi vì thảm thực vật là biểu thị bên ngoài của cảnh quan và rất nhạy cảm vói sự thay đổi của các điều kiện  tự nhiên. Tuy nhiên cảnh quan không giống với địa thực vật hay với thành phần nào khác, mà là một tổng thể tự nhiên có đặc trưng riêng về các điều kiện  hình thành hiện tại và cả trong quá khứ.

Tuy nhiên, sự hình thành các đới cảnh quan không chỉ phụ thuộc vào vĩ độ địa lý mà là hệ quả tổng hợp của các quy luật địa đới và phi địa đới.

Các đới cảnh quan chính của vỏ cảnh quan được thể hiện qua bảng sau :

Cơ sở năng luợng nhiệt-cán cân bức xạ (R)

Điều kịên ẩm- chỉ số khô hạn theo bức xạ (K)

 <0 (quá thừa ẩm)

Từ 0 đến 1

Từ 1 đến 2 (hơi thiếu ẩm) Từ 2 đến 3 (thiếu ẩm) Trên 3(quá thiếu ẩm)

Thừa ẩm

Độ ẩm thuận lợi nhất
0 – 1/5 1/5 – 2/5 2/5 – 3/5 3/5 – 4/5 4/5 – 1
< 0 (các vĩ độ cao) Tuyết vĩnh viễn
Từ 0 – 50 kcal/ cm2/ năm (phía nam vùng cực, cận cực và các vĩ độ trung bình) Hoang mạc bác cực Đài nguyên Phần bắc và trung miền rừng Taiga Phần nam miền rừng Taig, rừng hỗn hợp Rừng lá rộng vàthảo nguyên rừng Thảo nguyên Nửa hoang mạc của vòng đai ôn hoà Hoang mạc vòng đai ôn hoà
Từ 50 – 75 kcal/ cm2/ năm (các vĩ độ cận nhiệt đới Rừng nửa ghilê cận nhiệt đới Rừng mưa cận nhiệt đới Thảo nguyên cận nhiệt đới; rừng lá cứng cận nhịệt và rừng cây bụi Nửa hoang mạc cận nhiệt đới Hoang mạc cận nhiệt đới
 >75 kcal/ cm2/ năm (các vĩ độ nhiệt đới) Ưu thế rõ rệt của đầm lầy– rừng xích đạo Rừng xích đạo đầm lầy hoá mạnh Rừng xích đạo đầm lầy hoá trung bình Rừng xích dạo, rừng thưa, nhiệt đới và xavan rừng Xavan khô khan Xavan hoang mạc hoá(nửa hoang mạc nhiệt đới) Hoang mạc  nhiệt đới

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐỚI CẢNH QUAN CHÍNH TRÊN TRÁI ĐẤT:

   II.1. Các đới cảnh quan thuộc vòng đai lạnh :

Ranh giới bên ngoài của vòng đai lạnh trên Trái đất được vạch theo đường đẳng nhiệt +10 0 của tháng nóng nhất, cán cân bức xạ R trung bình từ 5-20 kcal/cm2/ năm. Có 2 đới chính là đới hoang mạc và đới đài nguyên.

– Đới hoang mạc:

Hoang mạc Bắc cực có ranh giới theo đường đẳng nhiệt 50 C của tháng nóng nhất, bao phủ phần phía Bắc của quần đảo Canada, Greenland và các đảo Bắc cực của Nga. Tại đây, cán cân bức xạ hàng năm từ 5 đến +8 kcal/cm2/năm, nhiệt độ tháng lạnh nhất từ -60C đến -490C, tháng nóng nhất từ -140C đến +50C. Nước ở đây quanh năm hầu như ở trạng thái rắn, mưa tuyết là chủ yếu, từ 75-500mm/năm. Tầng đóng băng vĩnh viễn có mặt khắp mọi nơi, phong hoá vật lí thống trị, đặc biệt là vỏ phong hoá băng. Đất thô và mỏng, đôi khi trong đất có dấu hiệu của hiện tượng xôlônsăc. Các dạng địa hình đặc biệt là đồi băng tích, đá trán cừu, fio, …Thực vật ở đây chủ yếu là rêu, địa y, thực vật bậc cao rất ít, động vật nghèo về thành phần loài, điỉen hình là bò xạ, tuần lộc, chồn bắc cực, ven biển có gấu trắng và nhiều chim biển.

Hoang mạc nam cực thực sự là một hoang mạc băng tuyết, khí hậu khô và lạnh hơn, tự nhiên ở dây cực kỳ khắc nghiệt, thực vật  không có bậc cao chỉ có bậc thấp. Động vật điển hình là chim cánh cụt, hải cẩu và một só loài chim biển.

–         Đới đài nguyên:

Bao chiếm rìa bắc của lục địa Á- Âu, Bắc Mĩ, hàng loạt những hòn dảo liền kề và một vài vùng duyên hải Greenland.

Khí hậu đới này bớt lạnh hơn, ẩm ướt hơn so với đới hoang mạc. Nhiệt độ trung bình tháng nóng từ 50C- 150 C, tháng lạnh từ -50C đến -350 C. Tầng đóng băng vĩnh viễn không phải có mặt ở khắp mọi nơi, nhiều ao hồ, đầm lầy. Vỏ phong hoá vụn thô, thành phần tiêu biểu là sắt và hydr, đất quá ẩm và mỏng.

Thảm thực vật thống trị là rêu và địa y, ngoài ra còn có môt số cây bụi nhỏ (bạch dương lùn, liễu lùn cực đới). Động vật thường thấy là tuần lộc, chồn bắc cực, sói đài nguyên… Ở đây có sự khác nhau về thành phần động vật mùa hạ và mùa đông lớn, hầu như tất cả các loài chim đều chỉ sinh sống ở đây vào mùa hè, đến mùa thu chúng bay đến các xứ nóng.

II.2. Các đới cảnh quan của vòng đai ôn hòa:

Ranh giới của vòng đai này được giới hạn ở đường đẳng nhiệt hàng năm + 200C tương ứng với vĩ độ 300C ở cả 2 bán cầu Nam, Bắc. Biên độ nhiệt độ năm lớn do vị trí của Mặt trời cao về mùa hạ thấp về mùa đông. Sự tồn tại của cảnh quan không rừng ở đây không phải do yếu tố nhiệt mà là do thiếu ẩm.

– Đới rừng Taiga:

Là đới quan rừng đặc trưng cho vòng đai ôn hòa, chỉ có ở bán cầu Bắc. Taiga là các rừng lá kim và lá nhỏ,có cấu trúc đơn giản (gồm các loài thông, tùng, lãnh sam… ) sinh trưởng trong điều kiện khí hậu lạnh ẩm, nghèo thành phần loài. Rừng Taiga tập trung ở Bắc Mĩ, phần Châu Âu thuộc Liên Xô cũ và vùng Sibir. Đây là những vùng có mùa đông lạnh,và khắc nghiệt nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất xuống tới – 100C đến -400C. Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất từ 130C đến 190C. Lượng mưa 400 – 600mm/ năm, nhưng bốc hơi ít hơn, dòng chảy thấm mạnh, nước ngầm nằm không sâu, mạng lưới sông dày, nhiều đầm hồ. Điều kiện khí hậu, thủy văn như vậy tạo thuận lợi cho việc hình thành quá trình rửa trôi và tích lũy mùn, hình thành đất Potzol, đặc trưng bởi sự xuất hiện tầng rửa trôi A2 có màu tro nhạt. Nơi hỗn giao rừng – cỏ thì hình thành đất Potzzon hóa – cỏ, nơi đầm lầy thì có đất Potzol hóa – lầy, than bùn.

Rừng Taiga có cấu trúc đơn giản nên giới động vật cũng không giàu. Chủ yếu là những loài sống trên cây như sóc, chim cú. Các loài sống trên đất có nai, hoẵng, hải li, linh miêu, gấu.

– Đới rừng hỗn hợp và rừng lá rộng:

Xuất hiện ở vùng có khí hậu ôn đới hải dương ấm và ẩm.

Tại bán cầu Bắc, đới rừng này nằm ở phần Đông nước Mĩ, Tây Âu và Viễn Đông, ở bán cầu Nam phân bố dọc bờ Tây Châu Mĩ (tới 350 vĩ Nam). Đặc trưng về mặt khí hậu của đới là mùa đông đã bớt lạnh, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất thay đổi từ – 120C đến + 50C, tháng nóng nhất đã tới 160C đến 210C. Lượng mưa khá lớn, từ 500 – 1000mm/ năm, phần duyên hải phía Tây Châu Mĩ do xoáy tụ và gió Tây, lượng mưa lớn tới 1200 – 1300mm/ năm. Sông ngòi dày đặc, nhiều đầm lầy, nước ngầm nằm không sâu. Dưới rừng hỗn hợp vẫn là đất Potzol, dưới tán rừng có cỏ mọc là đất Potzol hóa – cỏ, nơi đầm lầy có đất Potzol – lầy, than bùn. Đất hình thành dưới rừng cây lá rộng có khác với rừng Taiga và rừng hỗn hợp do độ phì khá hơn và có màu nâu nên gọi là đất nâu. Tùy điều kiện khí hậu, nếu quá trình tích lũy phì liệu cao hơn thì tạo nên loại đất nâu sẫm.

Trong đới rừng hỗn hợp, cùng mọc với các loài cây lá nhọn như thông, tùng, vân sam là các loại cây lá rộng như phong, sồi, dẻ, hồ đào, bần, dương. Giới động vật trong rừng phong phú hơn ở rừng Taiga. Ngoài các loài gấu, sóc, chồn, linh miêu thường gặp trong rừng Taiga, còn có nhiều loài của vùng cận nhiệt và nhiệt đới như lợn rừng, hổ, bò rừng, hươu. Ở đây còn gặp đông đảo các loài gà và các loài chim.

– Đới thảo nguyên rừng và đới thảo nguyên:

– Là đới chuyển tiếp từ rừng sang đới thảo nguyên với đặc trưng là sự xen kẽ giữa những khoảng rừng và khoảng đồng cỏ. Tập trung thành dải ở trung tâm đại lục Bắc Mĩ, vùng tiếp giáp Á – Âu, nhưng không có ở bán cầuNam.

Khí hậu của đới ẩm và khô khan hơn. Nhiệt độ tháng lạnh nhất từ – 50C đến – 200C, tháng nóng nhất là từ 180C đến 250C. Lượng mưa giảm xuống chỉ còn dưới 1000mm/năm, dòng chảy nhỏ hơn, ít đầm lầy.

Đất rừng màu nâu và đen. Nơi khô hạn có sự tích lũy muối Na sinh ra loài đất mặn Xolonsak.

Thành phần thực vật đặc trưng là các loài rụng lá, các loài cây trong rừng là sồi, đoạn, tùng, thông. Tại các khoảng đồng cỏ, các gống thực vật thuộc họ hoà thảo có thân rễ và cỏ tạp ưa ẩm thống trị. Hệ động vật không có giống riêng biệt.

– Đới thảo nguyên là một loại cảnh quan mở phát triển trên địa hình bằng phẳng, khí hậu nóng hơn và khô hơn. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất từ 00C đến 200C, tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình đã tới 20 – 230C. Lượng mưa chỉ có 140 – 550mm/ năm và tập trung vào đầu mùa hạ. Mạng lưới sông ngòi thưa thớt, sông ít nước chảy quanh co và chậm chap, không có hồ lớn.  Chính vì thế trên thảo nguyên luôn xảy ra hạn hán, gió khô, bão bụi.

Thực vật chỉ có cỏ, còn cây rừng chỉ mọc dọc thung lũng. Đất thảo nguyên nửa khô hạn là loại đất đen (Secnoziom) chứa nhiều Ca, Mg.

Thảo nguyên phát triển rộng ở Bắc Mĩ, Liên Xô cũ và Mông Cổ. Giới động vật gồm nhiều loài gặm nhấm như các loài chuột, dúi, các loài ăn cỏ như thỏ, hoẵng, sơn dương.

– Đới nửa hoang mạc và đới hoang mạc:

-Đới nửa hoang mạc là đới chuyển tiếp giữa các thảo nguyên và hoang mạc. Đới này xuất hiện trong điều kiện khí hậu khô hơn, lượng mưa chỉ còn 140 – 400mm/năm. Có thể gặp cảnh quan hoang mạc ở Tây Á, ở một vài cao nguyên thuộc Bắc Mĩ và Nam Mĩ.

Các loại đất trong đới là đất nâu, đất hạt dẻ và cả đất Xolonask. Các dạng địa hình đặc trưng là các cồn cát do gió tạo thành.

– Đới hoang mạc chiếm một diện tích đáng kể ở vòng đai ôn hòa, nhưng chỉ ở bán cầu Bắc tại Bắc Mĩ, Trung Á. Khí hậu của đới hoang mạc ôn đới rất khắc nghiệt, tháng lạnh nhất có thể xuống tới – 150C, nhưng tháng nóng nhất có thể tới 320C, cực trị có thể tới 500C đến 800C. Mưa rất ít, lượng mưa hàng năm chỉ từ 75mm đến 250mm, dòng nước chảy định kỳ, nước ngầm nằm không sâu, thường mặn. Trong điều kiện khô khan, các dạng địa hình phong thành ưu thế và quá trình phong hóa vật lí thống trị. Trong đất có sự tích lũy các loại muối và các chất kiềm Ca, Mg; hình thành các loại đất nâu, xám, Xolonsac và Xolonet.

Trên các loại đất đó mọc các loài thực vật khác nhau: loài ưa mặn, loài mọc trên cát, loài trên đất hoàng thổ sét.

Các loài động vật quý hiếm sống trên hoang mạc có ngựa tapan, hổ, ngoài ra còn có các loài linh dương, lạc đà, thỏ rừng, chó rừng, rùa thảo nguyên, chuột lớn hoang mạc và các loài rắn, thằn lằn, bọ hung.

– Các đới cảnh quan cận nhiệt:

Có vị trí chuyển tiếp từ vòng đai ôn hòa sang vòng đai nhiệt đới. Đặc trưng là tại các vĩ độ này có sự hoạt động của khối khí nhiệt đới vào mùa hạ và khối khí ôn đới vào mùa đông.

Ở đây thấy sự lặp lại từ đới cảnh quan rừng Địa Trung Hải, đới cảnh quan rừng hỗn hợp cận nhiệt thường xanh, đới xavan cận nhiệt, đới nửa hoang mạc đến đới hoang mạc cận nhiệt.

Giới động, thực vật của các đới cảnh quan này cũng mang tính chất chuyển tiếp. Trong cảnh quan rừng có các loài cây ôn đới như thông, tùng, bách, sồi, dẻ, đỗ quyên nhưng cũng có các loài nhiệt đới như ngô đồng, dâu tằm. Trong đới xavan có cả xavan sồi và xavan đậu gai, các loài cây họ hành tỏi. Động vật nhiệt đới ở xavan có các loài gặm nhấm, bò sát, chuột chù, cá sấu, hồng hạc, chuột có túi (kanguru), đà điểu.

II.3. Các đới cảnh quan của vòng đai nóng:

Vòng đai nóng nằm trong giới hạn của hai đường đẳng nhiệt 200C ở hai bán cầu . Cán cân bức xạ trong vòng đai thay đổi từ 60 – 80 kcal/cm2/năm. Sự khác nhau giữa các đới trong vòng đai về chế độ nhiệt ẩm thể hiện ở biên độ nhiệt và mức độ khô hạn.

– Đới rừng nhiệt đới:

Rừng nhiệt đới phân bố ở phía nam bán đảo Florida, phía Đông của Trung Mĩ, ở Đông Nam Á, các đảo ở Châu Đại Dương. Điều kiện khí hậu của đới là nóng ẩm, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 180C, tháng nóng nhất là 280C lượng mưa từ 1000 đến 2000mm/năm. Sông ngòi nhiều nước. Vỏ phong hóa dày, đất Feralit đỏ vàng. Các loài cây thường xanh thuộc họ Đậu, họ Dâu tằm, trong rừng có nhiều dây leo, cây phụ sinh. Thế giới động vật ở đây giống rừng xích đạo.

– Đới xavan nhiệt đới:

Đới xavan chiếm một diện tích rộng trong vòng đai, rộng nhất là lục địa Phi, ngoài ra còn có ở các vùng khác như Nam Mĩ, Bắc Australia, Hinduxtan ở Châu Á. Biên độ nhiệt trong năm của đới lớn hơn so với đới rừng nhiệt đới, tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình 12 – 200C, tháng nóng nhất 20 – 350C. Lượng mưa ít hơn nhiều, từ 100 – 500mm/ năm. Khí hậu có sự phân hóa ra hai mùa khô và ẩm rõ rệt. Mạng lưới sông ngòi thưa thớt, vào thời kì mưa có lũ ngắn dữ dội, mùa khô tình trạng sông ít nước kéo dài và các dòng sôg nhỏ bị khô cạn, nước ngầm nằm sâu và thường bị muối hoá.

Cảnh quan xavan nhiệt đới về căn bản giống thảo nguyên rừng, nhưng rừng ở đây chỉ là những loài cây gỗ thấp, ưa khô, mọc thưa thớt trên nền cỏ thảo nguyên. Khí hậu nóng nên thuận lợi cho quá trình Feralit tiến triển, hình thành loại đất nâu đỏ bên cạnh đất nâu xám và đất xám. Giới động vật khá phong phú, gồm các loài động vật ăn cỏ, các loài gặm nhấm, loài bò sát và cả các loài ăn thịt lớn, nhỏ. Tại đây gặp các loài thú lớn như hổ, voi, sư tử, báo, tê giác, hà mã, các loài thú chạy nhảy như hươu cao cổ, ngựa vằn, sơn dương, thú leo trèo như khỉ, vượn có túi, ngoài ra còn có các loài chim.

– Đới hoang mạc nhiệt đới:

Chiếm một diện tích ngang đới trên, hầu hết ở Bắc Phi kéo dài qua lục địa (Xahara) tới Hồng Hải, qua Aribi, đứt quãng để rồi tiếp tục ở phần Nam sơn nguyên Iran, lưu vực sông Indus (hoang mạc Thar), thể hiện tính lục địa ở nửa phía Bắc của Đông bán cầu. Hoang mạc nằm trong lục địa còn có Châu Úc. Tại lục địa Châu Mĩ và Nam Phi, các hoang mạc chỉ có bờ Tây (hoang mạcCalifornia, hoang mạc Atacama và nửa hoang mạc Kalahari).

Đặc trưng khí hậu của đới hoang mạc là nóng, khô, biên độ nhiệt trung bình tháng rất lớn từ 70C đến 350C, mưa rơi không đều, lượng mưa nhỏ chỉ từ 50 – 200mm/ năm, độ ẩm không khí rất thấp chỉ 30%, không có dòng chảy thường xuyên, các hồ đều mặn. Trong điều kiện đó đó quá trình phong hóa vật lí thống trị, quá trình hình thành thổ nhưỡng hạn chế.

Các dạng địa hình thổi mòn mang tính địa đới như dãy cát, cồn cát, backhan (đồi cát dạng trăng khuyết, hai sườn bất đối xứng), thung lũng khô.

Thảm thực vật thưa thớt gồm các loài ưa khô như xương rồng, bụi gai, các loài cỏ họ Hòa thảo. Thế giới động vật nghèo nàn hơn trong đới xavan, có các loài móng guốc, sơn dương, linh cẩu.

– Đới rừng xích đạo ẩm ướt (còn mang tên rừng Ghilê hay rừng mưa nhiệt đới).

Là một trong những đới cảnh quan giàu có và cổ kính nhất Trái đất. Đới rừng này chiếm diện tích lớn nhất ở Nam Mĩ gồm phần tây của miền đất thuộc lưu vực sông Amazôn, kéo sang đến sườn núi Andes, Ở châu Phi, nó chiếm từ ven vịnh Ghinê đến thượng lưu sông Cônggô và quần đảoMalayaở Đông Nam Á.

Đặc trưng khí hậu của đới là quanh năm nóng ẩm, điều hòa. Cán cân bức xạ đã vượt quá 80kcal/cm2/năm, nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 24 – 280C, biên độ nhiệt độ thấp từ 2 – 40C. Lượng mưa lớn, trung bình từ 1500 – 3000mm/năm, sườn đón gió có thể lên tới 10.000mm/năm. Mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều nước, nhiều đầm hồ. Sự phong phú của lượng nhiệt ẩm đã tạo điều kiện cho các quá trình địa hóa, sinh học diễn ra với cường độ mạnh mẽ. Sự khoáng hóa vật chất hữu cơ diễn ra mạnh mẽ nên mùn tích tụ trong đất không nhiều, mà luôn được chuyển hóa trong dòng vật chất, cây cối sinh trưởng quanh năm.

Khối lượng sinh vật rất lớn, tới 5.000 tạ/ ha. Lượng tăng trưởng hàng năm gấp 5 – 10 lần so với rừng ôn đới (350 – 500 tạ/ha so với 25 – 100 tạ/ha). Đặc trưng của rừng là có cấu trúc nhiều tầng (4 – 5 tầng cây), đa dạng về thành phần loài, Trong rừng ít cây bụi và cỏ, nhiều dây leo và loài phụ sinh. Giới động vật cũng vô cùng phong phú về loài và có nhiều loài độc đáo. Rừng Amazôn có khỉ hú, heo vòi, tà tu, hổ Nam Mĩ, bò biển, cá sấu. Rừng Châu Á có đười ươi, gấu Mã lai, bò rừng, heo vòi, hươu, voi, hổ, báo, thằn lằn, rắn hổ mang. Rừng Tây Phi có tinh tinh, hà mã, cá sấu, tắc kè Châu Phi, rắn hổ mang… Khí hậu trong rừng ẩm ướt nên giới côn trùng, sâu bọ cũng nhiều, các loài chim cũng đông.

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: